CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do –
Hạnh phúc
ĐƠN ĐỀ NGHỊ THANH
TRA
Về việc chấp hành
pháp luật lao động tại Công ty Seoul Semiconductor Vina
Kính gửi: Chánh Thanh tra Sở Lao
động – Thương binh và Xã hội tỉnh Ninh Bình
I. Thông tin người làm đơn
Họ và
tên: Nguyễn Văn Tỉnh
CCCD:
038097014884
Địa chỉ
liên hệ: Số 91 phố Đông Hòa, phường Duy Tiên, tỉnh Ninh Bình
Số điện
thoại: 0946 484 221
Email:
ntinh067@gmail.com
II.
Thông tin đơn vị bị đề nghị thanh tra
Tên
doanh nghiệp: Công ty TNHH Seoul Semiconductor Vina
Địa chỉ
nhà máy: Khu công nghiệp Đồng Văn I, phường Bạch Thượng, thị xã Duy Tiên, tỉnh
Hà Nam cũ, nay thuộc Ninh Bình
Lĩnh vực
hoạt động: Sản xuất linh kiện điện tử
III.
Nội dung sự việc
Tôi làm
việc tại Công ty TNHH Seoul Semiconductor Vina từ tháng 09/2023 đến tháng
01/2024, theo hợp đồng lao động, với mức lương cơ bản là 4.300.000 đồng/tháng.
Tháng 02/2024,
tôi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không báo trước và không
còn làm việc thực tế tại công ty kể từ thời điểm này.
Trong kỳ
trả lương cuối cùng (tháng 02/2024), công ty thanh toán cho tôi số tiền thực
lĩnh là 1.583.569 đồng. Công ty không cung cấp phiếu lương/ bảng kê
lương, mà chỉ gửi tin nhắn thông báo lương, thể hiện tổng thu nhập
là 8.203.481 đồng nhưng bị khấu trừ nhiều khoản, trong đó có:
·
Khấu trừ “vi phạm nghỉ sai quy định”: 6.450.000
đồng
·
Thu hồi thưởng Tết: 23.562 đồng
·
Khoản “trừ thẻ”: 46.850 đồng
Ngoài
tin nhắn trên, tôi không nhận được bất kỳ tài liệu đối chiếu hợp pháp nào.
Khoảng 3
tháng sau, khi tôi đề nghị chốt sổ BHXH, công ty yêu cầu tôi viết đơn
nghỉ việc mới thực hiện.
Sau khi
nhận tờ rời BHXH, tôi mới phát hiện công ty ghi nhận tôi ở trạng thái “ nghỉ
làm việc không hưởng lương từ tháng 02/2024 đến 05/2024, không đúng với thực tế
tôi đã chấm dứt quan hệ lao động từ tháng 02/2024.
IV.
Lý do gửi đơn tại thời điểm hiện nay
Tại thời
điểm nghỉ việc, tôi không được cung cấp đầy đủ thông tin, hồ sơ tiền lương và
căn cứ khấu trừ , nên không có điều kiện kiểm tra , đối chiếu.
Gần
đây, sau khi tìm hiểu các quy đinh pháp luật về luật lao đông, tôi nhận thấy
cách thức chi trả lương, khấu trừ tiền và quản lý hồ sơ lao động của công ty có
nhiều dấu hiệu vi phạm pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp
pháp của tôi.
V.
Các nội dung đề nghị Thanh tra xem xét
1. Hành vi chi trả lương thiếu
minh bạch, có dấu hiệu che giấu thông tin tiền lương và xâm phạm nghiêm trọng
quyền tiếp cận thông tin của người lao động.
Tại
kỳ lương cuối cùng, tôi chỉ nhận được số tiền 1.583.569 đồng
được chuyển vào tài khoản cá nhân. Công ty không cung cấp bảng kê trả
lương chi tiết theo quy định pháp luật, mà chỉ thông báo qua tin
nhắn điện thoại với nội dung sơ sài, thể hiện các khoản khấu trừ không
rõ căn cứ, không có thuyết minh và không có tài liệu đối chiếu.
Trong
suốt quá trình làm việc tại công ty, người lao động bị hạn chế một cách
có hệ thống trong việc tiếp cận thông tin tiền lương, cụ thể:
·
Không
được cung cấp bảng kê trả lương hoặc phiếu lương dưới bất kỳ hình thức bản giấy
nào;
·
Không
được gửi bảng lương qua email hoặc các phương tiện điện tử cá nhân;
·
Chỉ
được xem thông tin tiền lương trên máy tính do công ty kiểm soát, đặt tại xưởng
sản xuất;
·
Người
lao động không được mang điện thoại vào xưởng, điện thoại bị dán che camera,
dẫn đến không thể chụp, sao lưu hoặc lưu giữ thông tin tiền lương.
Các
biện pháp nêu trên tước bỏ hoàn toàn khả năng kiểm tra, đối chiếu và
giám sát tiền lương của người lao động, khiến tôi không thể xác định
được số ngày làm việc, số giờ làm thêm, cách tính tiền lương và căn cứ khấu
trừ, trong khi tổng thu nhập được công ty ghi nhận là 8.203.481 đồng.
Điều này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của
người lao động, đồng thời làm phát sinh nghi ngờ về tính trung
thực và hợp pháp trong việc chi trả lương của doanh nghiệp.
Căn cứ pháp luật:
Khoản
3 Điều 95 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định:
“Khi
trả lương, người sử dụng lao động phải cung cấp bảng kê trả lương cho người lao
động, trong đó ghi rõ tiền lương, tiền làm thêm giờ và các khoản khấu trừ (nếu
có).”
Việc
công ty không cung cấp bảng kê trả lương cho người lao động
dưới bất kỳ hình thức nào cho phép người lao động tiếp cận, kiểm tra và lưu giữ
thông tin, đồng thời áp dụng các biện pháp hạn chế có tính chất kiểm
soát và che giấu thông tin tiền lương, có dấu hiệu vi phạm
nghiêm trọng Điều 95 Bộ luật Lao động năm 2019, cần được cơ quan Thanh
tra lao động xem xét, kiểm tra và xử lý theo quy định pháp luật.
2. Hành vi kê khai sai tình trạng
lao động, không báo giảm lao động đúng thời điểm, làm lệch hồ sơ bảo hiểm xã hội
Công ty ghi nhận tôi ở trạng thái “nghỉ
làm việc không hưởng lương” trong thời gian từ tháng 02/2024 đến tháng 05/2024,
trong khi trên thực tế tôi đã không còn làm việc tại công ty từ tháng
02/2024, quan hệ lao động đã chấm dứt.
Mặt khác, công ty lại áp dụng các khoản
khấu trừ tiền với lý do tôi nghỉ việc sai quy định, thể hiện việc công ty thừa
nhận tôi đã nghỉ việc thực tế. Việc công ty vừa coi tôi là người lao động
đã nghỉ việc để làm căn cứ khấu trừ tiền, vừa ghi nhận tôi ở trạng thái “nghỉ
làm việc không hưởng lương” trong nhiều tháng liên tiếp là mâu thuẫn nghiêm
trọng về mặt pháp lý, không phản ánh đúng bản chất quan hệ lao động.
Trên thực tế, tôi đã đơn phương chấm
dứt hợp đồng lao động, dẫn đến quan hệ lao động đã chấm dứt. Tuy
nhiên, công ty không thực hiện báo giảm lao động theo quy định, mà vẫn
duy trì tình trạng lao động của tôi trên hồ sơ nội bộ và hồ sơ bảo hiểm xã hội.
Theo quy định của pháp luật lao động,
“nghỉ làm việc không hưởng lương” chỉ áp dụng khi quan hệ lao động vẫn còn
tồn tại và phải có sự thỏa thuận giữa hai bên, không áp dụng đối với
trường hợp người lao động đã chấm dứt quan hệ lao động trên thực tế.
Căn cứ pháp luật:
Nghị định số 12/2022/NĐ-CP quy
định xử phạt đối với hành vi kê khai không đúng tình trạng lao động, không báo
giảm lao động đúng thời điểm, thực hiện không đúng quy định về quản lý lao động
và bảo hiểm xã hội.
Hành vi nêu trên của công ty có dấu
hiệu kê khai sai tình trạng lao động, không báo giảm lao động đúng thời điểm,
dẫn đến làm sai lệch hồ sơ bảo hiểm xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền
lợi về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp của người lao động, đề nghị
Thanh tra Sở Lao động – Thương binh và Xã hội xem xét, kiểm tra và xử lý theo
đúng quy định pháp luật.
3. Việc thu hồi “Thưởng tết” và
khoản khấu trừ “tiền thẻ” không có căn cứ pháp lý
Trong
tin nhắn lương tháng 02/2024, công ty thực hiện khấu trừ khoản “Thu hồi
thưởng Tết” với số tiền 23.562 đồng.
Tuy
nhiên, trong suốt quá trình làm việc tại công ty:
·
Tôi
không được cung cấp, phổ biến hoặc tiếp cận quy chế thưởng của
công ty;
·
Không
được thông báo về điều kiện, trường hợp bị thu hồi thưởng;
·
Không
có tài liệu, văn bản nào thể hiện tôi đã được thông báo, giải thích hoặc ký
nhận quy chế thưởng.
Căn cứ pháp luật:
Điều
104 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định quy chế thưởng phải
được người sử dụng lao động ban hành và công bố công khai để
người lao động biết.
Việc
công ty thu hồi khoản thưởng khi chưa chứng minh được quy chế thưởng đã
được ban hành và công bố hợp pháp cho người lao động có dấu hiệu không
phù hợp với quy định tại Điều 104 Bộ luật Lao động năm 2019.
Liên
quan đến khoản khấu trừ “trừ thẻ” với số tiền 46.850
đồng, công ty thực hiện khấu trừ nhưng:
·
Không
có quy định nội bộ hoặc quy chế quản lý tài sản được phổ biến
cho người lao động;
·
Không
lập biên bản xác định thiệt hại;
·
Không
có căn cứ định giá tài sản bị thiệt hại (nếu có);
·
Công
ty vẫn khấu trừ một khoản tiền cố định, không gắn với thiệt
hại thực tế.
Căn cứ pháp luật:
Điều
127 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định nghiêm cấm hình
thức xử phạt tiền đối với người lao động.
Điều
129 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định việc bồi thường thiệt
hại phải căn cứ vào thiệt hại thực tế và được xác định rõ
ràng.
Khoản
khấu trừ nêu trên có dấu hiệu là hình thức xử phạt tiền trái pháp luật,
đồng thời không đáp ứng điều kiện về bồi thường thiệt hại, cần
được cơ quan có thẩm quyền xem xét, làm rõ theo quy định pháp luật.
4. Việc không ban hành quyết định
/biên bản bồi thường
Công ty không ban hành bất kỳ quyết
định bồi thường, biên bản xác định nghĩa vụ tài chính hoặc văn bản thỏa thuận
khấu trừ tiền lương nào, cũng không tổ chức làm việc trực tiếp với
tôi để thống nhất nghĩa vụ và phương thức thanh toán.
Việc khấu trừ tiền chỉ được thông
báo qua tin nhắn.
Căn cứ pháp luật:
Điều 40 Bộ luật Lao động năm 2019
quy định nghĩa vụ bồi thường của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp
đồng trái pháp luật;
Điều 102 Bộ luật Lao động năm 2019
quy định việc khấu trừ tiền lương phải có căn cứ rõ ràng, minh bạch và được
thông báo cho người lao động.
Việc công ty tự ý khấu trừ tiền
lương khi chưa xác định nghĩa vụ bằng văn bản có dấu hiệu không đúng
trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật lao động.
5. Việc khấu trừ tiền lương vượt
mức trong một kỳ trả lương
Công ty đã khấu trừ 6.450.000 đồng
trong một kỳ lương, khiến tiền lương thực lĩnh của tôi chỉ còn 1.583.569
đồng.
Căn cứ pháp luật:
Điều 102 Bộ luật Lao động năm 2019
quy định:
Mức khấu trừ tiền lương không được
vượt quá 30% tiền lương thực trả trong một kỳ trả lương.
Việc khấu trừ gần như toàn bộ thu
nhập trong một kỳ lương có dấu hiệu vi phạm giới hạn khấu trừ tiền lương
theo Điều 102 Bộ luật Lao động năm 2019.
VI.
Yêu cầu
Căn
cứ các nội dung đã trình bày nêu trên, tôi kính đề nghị Thanh tra Sở
Lao động – Thương binh và Xã hội:
Tiến hành xác minh, thanh tra việc chấp hành pháp luật lao động tại Công ty Seoul
Semiconductor Vina, đặc biệt đối với các nội dung:
·
Việc
thực hiện nghĩa vụ cung cấp bảng kê trả lương cho người lao
động theo Điều 95 Bộ luật Lao động năm 2019;
·
Việc
ghi nhận, kê khai tình trạng lao động và hồ sơ bảo
hiểm xã hội của người lao động sau khi chấm dứt quan hệ lao động;
·
Việc
ban hành và công bố quy chế thưởng, cũng như căn cứ
pháp lý của việc thu hồi khoản thưởng Tết;
·
Việc
khấu trừ các khoản tiền với danh nghĩa “trừ thẻ” và các khoản
khấu trừ khác;
·
Trình tự, thủ tục và căn cứ pháp lý của việc khấu trừ tiền lương khi
người lao động chấm dứt hợp đồng lao động.
Yêu cầu công ty giải trình và xuất trình đầy đủ hồ sơ, tài liệu liên quan, bao gồm nhưng không giới hạn:
·
Phiếu
lương/bảng kê trả lương theo đúng quy định pháp luật;
·
Quyết
định, biên bản hoặc văn bản xác định nghĩa vụ bồi thường (nếu có);
·
Quy
chế thưởng và tài liệu chứng minh đã công bố hợp pháp cho
người lao động;
·
Hồ
sơ kê khai, điều chỉnh tình trạng lao động và bảo hiểm xã hội của tôi trong
giai đoạn từ tháng 02/2024 đến tháng 05/2024.
Trường
hợp qua thanh tra xác định công ty có hành vi vi phạm pháp luật lao
động, kính đề nghị cơ quan Thanh tra:
·
Áp dụng biện pháp xử lý theo đúng quy định pháp luật hiện
hành;
·
Buộc công ty thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, bao gồm:
o Hoàn trả cho tôi các khoản
tiền đã bị khấu trừ trái quy định (nếu có);
o Điều chỉnh, cập nhật lại hồ sơ lao
động và hồ sơ bảo hiểm xã hội cho phù hợp với thực tế quan hệ lao động;
o Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ
công khai, minh bạch tiền lương đối với người lao động theo quy định
pháp luật.
Kính mong cơ quan/đơn vị/cá nhân có
thẩm quyền xem xét đơn đề nghị và giải quyết sớm cho tôi. Tôi xin
cam đoan những thông tin trên hoàn toàn đúng sự thật; nếu có sai sót,
tôi xin chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền và trước pháp
luật.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Ninh Bình, ngày … tháng …
năm 2026
Người làm đơn
Tài liệu đính kèm:
·
Ảnh
chụp màn hình tin nhắn thông báo lương tháng 02/2024;
·
Bản
photo Tờ rời quá trình đóng bảo hiểm xã hội;
·
Bản photo Thẻ nhân viên, CCCD và hợp đồng lao động
Nhận xét
Đăng nhận xét